Các chất độc hại nào có trong nước chú ý sử dụng

Các chất độc hại nào có trong nước
Theo thống kê của Bộ Y tế, Việt Nam có khoảng 200.000 ca mắc bệnh ung thư mới mỗi năm do nguyên nhân chủ yếu từ nguồn nước có chất lượng kém. Thiếu nước sạch và vệ sinh kém là nguyên nhân chủ yếu, khiến trẻ em nhiễm giun sán, trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. Trong thành phần của nước có nhiều thành phần có độc tố cao, nếu hàm lượng lớn tồn tại trong nước lớn sẽ gây nguy hiểm cho sức khỏe người. Sau đây mời bạn đọc cùng SSGREVIEW tìm hiểu các chất độc hại nào có trong nước chú ý sử dụng nhé.

Chất Asen

Asen là một nguyên tố hóa học có nhiều trong tự nhiên. Chất này được nhà khoa học người Đức-Albertus Magnus  công bố chính thức vào năm 1250.  Asen có hai loại: Asen vô cơ và Asen hữu cơ. Asen hữu cơ được hình thành trong tự nhiên do sự phân hủy của các loài sinh vật tư nhiên như hải sản, đặc biệt là cá.  Asen hữu cơ không có độc tính và cũng có thể nhanh chóng bị loại bỏ ra khỏi cơ thể mà không gây ra bất cứ vấn đề gì với sức khỏe.  Còn  Asen vô cơ lại là một chất hóa học cực độc, Asen vô cơ và các hợp chất của nó thường được sử dụng trong việc tạo ra các loại thuốc  có tính độc tố cao như diệt cỏ và các loại thuốc trừ sâu,… 

Asen gây ra ngộ độc asen do sự hiện diện của nó trong nước uống. Nếu bị ngộ độc cấp tính bởi asen sẽ có biểu hiện: khát nước dữ dội, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, người ngộ độc sẽ bị mạch đập yếu, mặt nhợt nhạt rồi thâm tím, bí tiểu và tử vong nhanh..
Nếu bị nhiễm độc asen ở mức độ thấp, mỗi ngày một ít với liều lượng dù nhỏ nhưng trong thời gian dài sẽ gây: Mệt mỏi, buồn nôn và nôn, hồng cầu và bạch cầu giảm, da sạm, rụng tóc, sút cân, giảm trí nhớ, mạch máu bị tổn thương, người bệnh sẽ bị rối loạn nhịp tim, đau mắt, đau tai, viêm dạ dày và ruột, làm kiệt sức, ung thư.
Một số mạch nước ngầm ở nhiều vùng thuộc nước ta nhiễm asen là do cấu tạo địa chất. Tuy nhiên, cũng không loại trừ ô nhiễm là do tác động của con người như: Nguồn nước ngầm gần các nhà máy hoá chất, những khu vực dân tự động đào và lấp giếng không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật khiến chất bẩn, độc hại bị thẩm thấu xuống mạch nước.
Theo tổ chức y tế thế giới so với tất cả các tạp chất có trong nước, Asen xếp vào tốp nguy hiểm và độc hại nhất. Quy chuẩn cho phép hàm lượng rất nhỏ 0,01 mg/l. Nếu sử dụng nguồn nước có hàm lượng Asen vượt quá ngưỡng này sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe người dùng.

XEM THÊM Cách hạ nhiệt cục nóng máy lạnh không khí.

Chất Sắt

Sắt là hợp chất kim loại nặng có trong nước, nước bị nhiễm sắt có ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe của con người.

Sắt có rất nhiều trong các mạch nước ngầm ở Việt Nam, chúng thường tồn tại dưới dạng sắt Fe2+ khiến nước có mùi tanh. Khi được bơm lên khỏi mạch đất Fe2+ gặp không khí và tác dụng với oxy chuyển hóa thành Fe3+ khiến nước có màu nâu đỏ.

Theo tiêu chuẩn nước uống và nước sạch, hàm lượng sắt trong nước phải nhỏ hơn 0.5 mg/l. Nếu vượt quá con số này, nước sẽ bị ô nhiễm sắt, còn gọi là nhiễm phèn, sử dụng trong một thời gian dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe.

Đối với các thiết bị sử dụng ở nguồn nước nhiễm sắt, sau thời gian sử dụng sẽ lắng cặn lại gây gỉ sét và tắc nghẽn trong đường ống.

Chất Mangan

Mangan là một trong số ít những chất có trong nước nhưng không gây nên bệnh ung thư gì cả. Nhưng nó lại là tác nhân ảnh hưởng khá nhiều đến các bệnh liên quan đến hệ thần kinh. Bởi nếu trong nước, hàm lượng Mn lớn,  chất này gây ra các độc tố hình thành hội chứng manganism (tương tự bệnh parkinson). Loại chất này cũng có hại rất nhiều với hệ bài tiết của trẻ nhỏ. Vì cơ thể của trẻ chưa được hoàn thiện, nên khó bài tiết hết Mangan ra bên ngoài. Dẫn đến sự tích tụ Mn trong cơ thể trẻ và gây ra hậu quả nghiêm trọng. Hơn nữa, khi sử dụng nguồn nước có chứa hàm lượng Mn cao, đồ dùng trong nhà sẽ bị bám bẩn, trường hợp giặt giũ sẽ gây nên những vết bẩn mầu nâu đen bởi quá trình oxi hóa gây ra.

THAM KHẢO VẬT LIỆU LỌC TRÊN SHOPEE

Chất Nitrit

Nitrit – N02, là hợp chất của Nito được hình thành trong quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ. Trong nước, nitrit là sản phẩm trung gian của các phản ứng hóa học dưới tác động của vi khuẩn từ amoniac thành nitrite và cuối cùng là nitrat. Thời gian tồn tại của nitrit trong nước rất ngắn, vì khi gặp oxi không khí sẽ chuyển hóa thành nitrat. Nitrit là chất có tính độc hại tới sinh vật và con người, bởi nó có thể chuyển hóa thành các dạng sản phẩm có thể gây ung thư cho con người. Nitrit có tác dụng oxi hóa huyết sắc tố Hemoglobin trong hồng cầu, để hình thành methemoglobin không có khả năng vận chuyển oxi cho máu giống như Hemoglobin. Đặc biệt là cơ thể trẻ em không có đủ enzyme trong máu để chuyển hóa methemoglobin trở lại thành hemoglobin. Vì vậy nếu bị ảnh hưởng lâu ngày của Nitrit, trẻ sẽ mắc các bệnh da xanh, dễ nguy hiểm đến tính mạng, đặc biệt đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi, làm chậm quá trình phát triển của trẻ tích lũy trong cơ thể gây ra các bệnh về đường hô hấp. Do trong hệ tiêu hóa của người trưởng thành có khả năng hấp thụ và thải loại Nitrit tốt, nên ít bị ảnh hưởng bởi methemoglobin hơn.
Khi bị ngộ độc Nitrit, cơ thể sẽ bị giảm chức năng hô hấp, có các biểu hiện như khó thở, ảnh hưởng đến hệ hô hấp.
Nitrit được khuyến cáo là có khả năng gây bệnh ung thư ở người, do nitrit kết hợp với các axit amin trong thực phẩm mà con người ăn uống hàng ngày hình thành một hợp chất nitrosamine-1 là hợp chất tiền ung thư. Hàm lượng nitrosamin đã tích lũy đủ cao khiến cơ thể không kịp đào thải, tích tụ dần trong gan có thể gây ra hiện tượng nhiễm độc gan, ung thư gan hoặc dạ dày.

Chất Amoni

Bản thân amoni NH4+ không độc hại đối sức khỏe con người, tuy nhiên nó lại có khả năng chuyển hóa thành những chất rất độc (Nitrit, Nitrat).Trong mạch nước ngầm, amoni không thể chuyển hóa được do thiếu oxy. Khi khai thác lên, vi sinh vật trong nước nhờ oxy trong không khí chuyển amoni thành các nitrat(NO2-), nitrit (NO3-) tích tụ trong nước ăn. Khi ăn uống nước có chứa nitrit, cơ thể sẽ hấp thu nitrit vào máu và chất này sẽ chiếm oxy của hồng cầu làm hemoglobin mất khả năng lấy oxy, dẫn đến tình trạng thiếu máu, xanh da, nó có thể làm chậm sự phát triển, gây bệnh ở đường hô hấp. Đối với người lớn, nitrit kết hợp với các axit amin trong thực phẩm làm thành một họ chất nitrosamin. Nitrosamin này có thể gây tổn thương di truyền tế bào –> nguyên nhân gây bệnh ung thư ở người.

Chất Clo dư

Khi sử dụng nước máy, chắc hẳn các bạn sẽ cảm nhận được mùi Clo, bởi Clo là thành phần phổ biến có mặt trong nước  máy. Clo là một chất khử trùng nước rất hiệu quả, vì vậy nó được áp dụng để khử trùng cho hầu hết các nguồn nước máy. Tuy nhiên, đa số các nguồn nước máy có tỷ lệ clo dư khá cao và thường vượt mức cho phép với dấu hiệu là nước thường có mùi clo rất sốc. Nước máy nhiễm clo dư vượt quá tiêu chuẩn (0,5mg/lít) có thể gây ngộ độc. Tùy theo nồng độ, thời gian tiếp xúc mà mức độ ảnh hưởng khác nhau. Các triệu chứng lâm sàng của người bị nhiễm độc clo cấp tính là ho, khó thở, đau ngực, phù phổi…. Nếu ngửi lâu có thể gây tổn thương đường hô hấp. Nước nhiễm clo dư tiếp xúc lâu với mắt có thể gây tổn thương giác mạc. Đặc biệt là rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh, nếu sử dụng nước có clo dư vượt tiêu chuẩn trong việc tắm và ăn uống cho trẻ. Bởi Clo là chất oxy hóa tương đối mạnh, ngay cả khi ở nồng độ rất thấp, thì clo vẫn có thể gây ra sưng tấy cho các tế bào hồng cầu. Đặc biệt là clo tác dụng với hợp chất hữu cơ, tạo nên hợp chất Trihalomethane – THM’S là một chất có khả năng gây ung thư.

GỢI Ý:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.